Sông nước Hậu giang và Nguyễn
Ngọc Tư
Kiệt
Tấn
Phù sa nước đục
khó dòm
Nhớ
anh em khóc đỏ lòm con ngươi
Lần trước, bài Cái rầu bất
tận của Nguyễn Ngọc Tư đã giới
thiệu hai tác phẩm của tác giả này: Ngọn
đèn không tắt và Cánh đồng bất tận.
Bài sau đây bổ túc và đề cập tới hai tác
phẩm còn lại: Giao thừa và Tạp văn.
Nắng Hậu
giang mưa Tiền giang
Nhìn nhau mà lệ rớt hai hàng
Câu ca vọng cổ chìm trong tối
Mùi mẫn còn rung dưới nguyệt tàn
Từ Ngọn
đèn không tắt qua đến tập truyện Giao
thừa, NNT đã bỏ bớt được tính
chất học trò trong cách kể chuyện và ngay cả
trong lối viết. Tư trở nên già dặn hơn.
Truyện kể cũng đơn giản thôi, nhưng
mạch lạc hơn. Tập Giao thừa gồm 17
tựa truyện cho 161 trang. Thể văn nói chuyện linh
hoạt tự nhiên, không cường điệu ồn ào.
Văn gắn bó với đời sống, chơn
chất, không sần sùi ngổ ngáo như lối viết
« mới » hiện nay. Cách nói thành thật hiền
hòa, không xốc táp ngang ngược. Người
đọc không thấy ở Tư cái cố gắng
« làm văn chương », không có những câu văn
thời thượng, trau chuốt, không có những kiểu
nói om sòm mà rỗng tuếch. Bình dị. Đơn giản.
Dễ hiểu. « Có sao nói dậy ». Vậy thôi. Mà
tại sao phải nói rắc rối ? Nhiều khi nói
rắc rối là nhằm để che đậy một
sự trống rỗng, một cái dốt đặc nào
đó ở mình. Cho nên phải « rắc rối hết
cỡ nói ! » cho thiên hạ tá hỏa và phục
lăn ?
Trong tập Giao
thừa, phần lớn bài viết có truyện – có chút
truyện, hay gọi là… Đôi khi bài viết
được dựng lên quanh một chi tiết, quanh
một tình cảm thương ghét, quanh một quyến
luyến, một quan tâm, để ý, « có cảm
tình » giữa các nhân vật trong truyện. Chẳng
hạn : Giao thừa, Bởi yêu thương,
Chuyện vui điện ảnh, Hiu hiu gió bấc, Một
mối tình, Nhớ sông…
Đọc vài ba
truyện khác nhau, có cảm tưởng Tư mê cải
lương, mê điện ảnh, và cũng có thể là mê
làm đào hát luôn không chừng (?) Có gì mà lấy làm
lạ ? Đã làm dân miền Nam mà không biết mê cải
lương, không biết mê vọng cổ là một
thiệt thòi lớn ! Truyện Bởi yêu
thương nhắc tới gánh hát rã khiến cho
người đọc ngậm ngùi. Hồi xưa, nhà tôi
ở cạnh rạp hát nên tôi cũng đã từng
chứng kiến hai ba gánh hát cải lương nhỏ rã
gánh tại chỗ vì trời mưa ế khách. Rồi
đào kép, hề diễu, người đờn, con nít lân
la đi xin cơm ăn trong xóm. Nhưng cũng nhờ láng
giềng cô bác thương tình nên không một ai bụng
đói. Tình nghĩa đùm bọc đặc thù của
người miền Nam. Mưa Tiền giang nắng
Hậu giang. Những tay hảo hớn sống ngang tàng.
Trái tim hào hiệp bao trời đất, Bốn biển anh
em rượu rót tràn...
Ngoài mê cải
lương, còn có cảm tưởng Tư bị ám
ảnh bởi tên gọi của các nhân vật. Những cái
tên trở đi trở lại trong nhiều truyện khác
nhau, như Ông Chín, San, Xuyến, Điệp, Diệu,
Giang... Tưởng chừng như những nhân vật
đó có thật trong đời sống. Họ bị
phăng cuốn trong dòng đời bất cưỡng, quanh
quẩn trong rạch ngòi Hậu giang chằng chịt, nay
được Tư phân cắt thành những mẩu
truyện ngắn. Biết đâu chừng khi nối
liền hết lại, những mẩu truyện ngắn
này sẽ kết hợp thành một truyện dài mạch
lạc, một bức tranh đời éo le, lâm ly, ngang trái.
Còn một thứ
không thể nào thiếu được trong tất cả
các truyện của Nguyễn Ngọc Tư. Đó là sông
nước: sông bốn phía, nước tư bề!
Quơ chỗ nào cũng đụng nước, ngó chỗ
nào cũng thấy sông. Nước là nền, sông là dòng cho
ngòi bút của Tư triền miên tuôn chảy, cuốn theo
những chữ nghĩa đầy ắp tình người
như phù sa lợn cợn. Sinh đẻ ở miệt
Hậu giang, gắn bó với cuộc đất Cà mau
như Tư thì cũng không thể nào khác hơn
được. Dứt sông là dứt hơi thở, cạn
nước là cạn máu huyết. Là mất hết cái
lẽ sống còn. Tư đặt tựa truyện: Dòng
nhớ (tr. 47). Nhớ gì? Nhớ sông (tr. 154).
Nhớ sông, nhớ nước, nhớ da diết, nhớ
dai dẳng, nhớ muốn khùng, nhớ muốn điên.
Nhắm mắt vẫn thấy, hôn mê vẫn thấy.
Thấy hoài thấy hủy.
Truyện Dòng
nhớ : Một người đàn ông (gọi là ba)
trốn nhà theo chung sống với một người
đàn bà (gọi là dì) trên ghe thương hồ. Hai
người có con với nhau, nhưng rủi ro đứa
con nhỏ bò lọt sông chết chìm. Người đàn ông
nghe theo lời má, bỏ sông lên bờ cưới vợ
khác (gọi là má). Và tiếp theo đó, thỉnh
thoảng dì trở lại neo ghe trên bến cũ
để ngóng ba, người chồng giờ đây
đã vuột khỏi tầm tay mình. "(...) chuyện
xảy ra lâu rồi, nhưng người ta vẫn còn
nhớ, vẫn còn cắm sào trước bến nhớ ba
tôi, vậy mà biểu ba tôi quên cái rụp thì làm sao quên
được" (tr. 51). Cắm sào thì cắm sào,
đậu bến thì đậu bến, nhưng “người
ta nhớ thương đứt ruột có thể chạy
ào lại để gặp nhau, nhưng vì lương tâm
không làm được, đành ngồi đây ngó lên,
ngồi ở trên ngó xuống" (tr. 56)
Còn người
đàn ông trên bờ cũng không ngớt ngóng ra sông mà
nhớ người thuở trước. "(...) đêm
đêm cả nhà đi ngủ, ba tôi ngồi hút thuốc trên
bộ vạt kê trước nhà, chống rèm lên, ngó ra sông"
(tr. 50). "Những đêm đó, ba tôi hút thuốc
dữ, cứ nhìn chong chong ra ngọn đèn đỏ
ối, nhỏ nhoi, buồn hiu ngoài kia" (tr. 51) Tâm can
rời rã, tuy có mặt đó mà cũng đồng thời
vắng mặt: “Ông đang ở đây nhưng tâm
hồn ông, trái tim ông, tấm lòng ông chảy tan vào dòng
nước tự lâu rồi" (tr. 50)
Bằng lối
viết dung dị, Tư đã làm bật sáng lên
được cái tương tư của hai
người tuy cách mặt nhưng không xa lòng. Tương
tư đôi chốn tình ngàn dặm, Vạn lý sầu lên
nối tiếp mây… Cái thương nhớ tơi bời
hiện lên theo từng hình ảnh rõ nét, khắc khoải
theo từng chữ viết dung dị mà đúng tận tâm
can.
Rồi
người đàn bà bỗng dưng bỏ bến sống
đi biệt, không còn bao giờ trở lại bến
xưa cắm sào mong ngóng nữa. Và cuối cùng
người đàn ông chết trong mong đợi, thi
thể vùi chôn ở vườn nhà. Người vợ cho
dù có hờn ghen hừng hực cũng thấu hiểu
được tấm tình khắng khít giữa ông chồng
bền lòng và tình địch bền dạ của mình. « Má
tôi vẫn không ngừng tìm dì, hỏi để làm gì, má tôi
nói để cho dì hay và nói với dì, nếu sống mà không
gần được, chừng nào chết, mời dì lên
nằm trên đất vườn tôi » (tr. 57).
Người đàn bà muốn giúp cho chồng mình chấm
dứt dòng nhớ. Nhưng liệu được chăng
khi dòng sông vẫn còn đó, con nước vẫn trôi hoài,
vẫn trôi xa tắp về miền bất tận. « Đó
là nỗ lực cuối cùng má tôi làm để chấm
dứt cái cảnh ba nằm bên má mà hồn vẫn
hướng về những dòng sông miên man chảy »
(tr. 57).
Những dòng sông…
Ôi ! Những dòng sông… khiến chợt nhớ thơ
Nguyễn Bính : « Sông đụng đâu sông, sông
gặp sông, Thuyền xuôi theo nước, nước theo
dòng. Người về người gặp quê người
đó, Ta gặp ai đây giữa bụi hồng ? »
Và những dòng
sông, những dòng nhớ của Tư vẫn cứ tuôn
chảy miệt mài, len lỏi trong khắp cùng ngõ ngách
Hậu giang. Cuối cùng, dòng nhớ biến thành một
nỗi nhớ mong khắc khoải: Nhớ sông, bài
viết chót trong tập Giao thừa. Mà không nhớ sao
được, khi cả cuộc đời ba, cả
cuộc đời má, cả cuộc đời hai con mình
đều gắn bó bền chặt với sông nước.
“Bây giờ hỏi lại, Giang nói không có con kinh, con
rạch nào mà ghe chưa đi qua, không có đường
ngang ngõ tắt nào mà ông Chín không biết. Xuôi dòng,
ngược dòng, con nước kém, con nước rong...
Không ai nói với ai, nhưng cả nhà ông đều
nghĩ, chắc là sống như vầy hoài, như vầy
mãi thôi. Chị em Giang đùa nhau, sau này lấy chồng ra
riêng, ba cho mỗi đứa một chiếc ghe" (tr.
156)
Giang tự nó nghĩa là sông,
cái tên như một định mạng trói buộc từ
đời nào với rạch ngòi. "Giang không hiểu
sao mình nhớ hoài, nhớ ràng ràng cái ngày đó. Cho nên qua vàm
lần nào, Giang đều kéo con Thủy ra, Giang chỉ, má
chết chỗ này nè" (tr. 156). Má trợt sào té
đầu đập vào cái gờ sắt, đôi chân còn bíu
vào ghe, rồi cả thân người hụp vào lòng sông, chìm
lĩm. Vợ chết, ông Chín vẫn tiếp tục
chở hai đứa con gái đi bán hàng bông xuôi
ngược trên khắp các ngả sông ngòi. Thủy mê
đất từ hồi nhỏ, từ thuở còn
bồng. "Giang nhắc, ờ phải em ham đất
lắm, hồi nhỏ ghe đậu bến nào chế
cũng coi em bắt mệt, cứ xoay lưng là em chổng
mông cạp đất ăn ngon lành" (tr. 159). Chế
là tiếng Tiều châu để gọi chị mình.
Rồi cái
mộng ước định cư trên đất
liền của ba đã (hay gần như) trở thành
sự thật: Giang lên bờ, lấy chồng tên Thuấn
ở Đập Sậy, có đất làm ruộng.
Những tưởng một khi đã lên bờ định
cư rồi là quên được sông. Nhưng liệu quên
được không? Thỉnh thoảng ông Chín ghé qua nhà
Thuấn thăm con gái và nhậu tì tì với thằng
rể tốt bụng. "Ghé Đập Sậy, Giang
đòi ông Chín ở lại một đêm, cho Giang xuống
ghe ngủ với con Thủy. Giang than nức nở,
"Trời ơi con nhớ ghe quá trời đất
đi”. Xuống ghe, Giang đưa tay rờ rẫm từng
món hàng, từng miếng sạp" (tr. 157). Rưọu
vô ngà ngà, Thuấn than thở với ông già vợ của
mình: « Thường thì cơm nước, quét dọn xong,
để hở ra giờ nào Giang lấy xuồng chèo
đi giờ ấy. Trời đất, nó đi đâu?
Thuấn cười chua chát, “Hổng biết, nó chèo
khơi khơi vậy đó ba à, con cũng nghi bậy trong
bụng, có bữa con rình đi theo, vợ con chèo
đã đời rồi nó buông chèo lủi vô đám lá,
lấy tay vịn, ngồi ở đó. Rồi chèo về,
vậy à » (tr. 158).
Trời
ơi ! Nhớ tới nước này thì phải gọi
là ghiền mới phải. Nhớ sông ! Hay là
ghiền sông, ghiền nước, ghiền bơi,
ghiền chèo, ghiền cái mui ghe, ghiền cái sạp nằm,
ghiền con sóng lăn tăn, ghiền dòng phù sa ngầu
đục, ghiền tiếng nước khua bì bõm ? Mà
một khi đã ghiền tới mức này là kể như
hết thuốc chữa. Chỉ còn nước trả Giang
lại cho sông nước mà thôi.
Xếp quyển Giao
thừa lại, người đọc tự hỏi
Giang có phải là người con gái thứ tư trong
một gia đình nào đó ở miệt Cà mau xa mút tí tè,
nơi tận cùng đất nước : Cô Tư.
Tư. Nguyễn Ngọc Tư, cô gái Hậu giang có cái nhìn
hiền hậu, có nụ cười thắm thiết và
nước da bánh ít mặn mòi?
Mưa Hậu
giang nắng Tiền giang
Cô em kẹp tóc bịt răng vàng
Cẩn tim xanh đỏ càng quê lắm
Mắt liếc khua theo guốc rộn ràng...
Mưa Hậu giang nắng Tiền giang
Bến sông san sát những nhà sàn
Võng trưa kẽo kẹt em tôi hát
Gió đưa bông thắm nở về chàng
« Ầu
ớ… Gió đưa gió đẩy bông trang, Bông búp về
nàng bông nở về anh… Ầu ơ… » Nhà sàn,
loại nhà nửa trên bờ nửa dưới
nước, dựng trên những chưn cột rắn
rỏi đóng chặt xuống lòng sông, sàn lót bằng ván.
Nhà sàn rất phổ thông ở vùng sông nước
đồng bằng Cửu Long, như Bạc liêu, Cà mau,
Cần thơ, Vĩnh long, Mỹ tho…
Mãi đến khi
bước chân vào Tạp văn của NNT, Trăm
năm bến cũ con đò tôi mới bắt gặp
lại được chiếc võng đưa và mái nhà sàn
ở miệt phù sa của Tư. « Cửa sau nhà tôi
trông ra sông. Tôi thường ví đó là một khung tranh, có
lúc nó hiện lên những chiếc tàu cao nghệu, hùng
hục đi qua, che khuất cả dãy nhà sàn bên kia sông… »
(tr. 163)… « Chỗ tôi ngồi có chiếc võng con
giăng ngang căn chòi de ra mép nước » (tr. 165).
Nhà sàn còn đó, con đò còn đó, võng giăng còn đó, mà
tiếng « ầu ơ » ru em đã vỗ cánh bay
đi mất biệt tự lúc nào. Có lẽ kể từ
sau năm 75, kể từ lúc Tư chào đời và ngủ
đưa trên võng, không còn ai nhớ hát ru con bằng
những câu ca dao « ầu ơ ví dầu » nữa.
Thời tản
cư ở Bạc liêu, lúc tôi 5 tuổi, ghe ba má tôi trôi
giạt xuống tận vùng Đầm Chim, Đầm
Dơi. Thỉnh thoảng ba tôi nhắc tới tên sông Trèm
Trẹm ở miệt Năm Căn, tôi không nhớ rõ
mình đã có lần đi qua con sông đó hay chưa. Cho
tới lúc Tư bơi xuồng ba lá đưa tôi đi
thăm chợ nổi ở Cà mau, tôi mới biết
chắc là mình đang thả trôi trên dòng sông Trẹm. "Giữa
chợ nổi Cà mau, cảm giác như gặp
được những khu vườn của miệt sông
Tiền, sông Hậu, như nhìn thấy những rẫy
khóm, rẫy mía miên man dọc trên miền sông Trẹm quê mình"
(tr. 136). Ở Bạc liêu, Cà mau, rất đông người
Triều châu chuyên nghề làm rẫy – với những
tiếng gọi nhau rất là chệt
« Tiều » : tỉa, hia, chế, số, tùa
củ, tùa nứng… (Nói Quảng nói Tiều !) Sông
Trẹm, dòng sông ngầu đục đã chảy vào
rẫy thơ của Lâm Hảo Dũng thời chinh
chiến « Ấy dòng sông Trẹm xưa nay, Còn
thương cây mắm rễ cài trên không. Lênh đênh em
một chiếc xuồng, Đời tôi lính trận cỏ
bồng chân mây ». Đời trai thời loạn.
Một cuộc binh đao. Một cơn máu lửa tơi
bời. Bao nhiêu người đã vĩnh viễn nằm
xuống trên xứ sở tang thương vì bom
đạn ? « Hận người con muỗi vo
ve, Nên trong cuộc chiến bạn bè giết nhau. Ấy
dòng sông Trẹm trôi mau… »
Hãy chậm
dầm bơi lại để đi vào cái chợ nổi
của Tư và bắt gặp Chút tình sông nước.
« Nằm giữa lòng thành phố Cà mau, quãng cuối
sông Gành Hào, đứng trên cầu nhìn về phía mặt
trời mọc, người ta có thể nhìn thấy
một dãy ghe rập rờn xao động cả mặt
sông, những cái chân vịt gác chổng lên loang loáng
dưới mặt trời » (tr. 134). Tư thích nói
về những cái chợ nho nhỏ họp nhóm chùm nhum
ở miệt ruộng rẫy, những cái chợ chộn
rộn đầy ắp tình nghĩa, thương mến,
thân thuộc, nơi mà mọi người gần như
đều biết hết mặt nhau. Chẳng hạn cái Chợ
bên đường ở một làng quê hẻo lánh nào
đó… « Như người phụ nữ chân quê,
chợ nhỏ nhoi, hiền hậu, trầm tính dịu dàng
(…) Buổi sáng sao mà dậy mùi thơm nồng hăng
của rau húng lủi, húng cây, rau cần nước,
cần rừng » (tr. 39) Nhưng gà vịt, cá tôm, rau
củ trong vườn nhà bày ra đó chỉ để mong
bán được, trả giá thấp cao, trông chừng,
hoặc canh ngó thôi sao ? Không, không ! đâu phải
chỉ có bao nhiêu đó. « Chị em chụm lại rôm
rả với nhau chuyện chồng con, chuyện hàng xóm,
ruộng lúa, vườn cây… (chuyện xóm quê mà, nói biết
chừng nào cho hết) » (tr. 39) Khách từ
phương xa tới và có dịp qua ngang chợ, hãy
để ý. Hãy để ý cho tận tường, hãy ngó
cho thiệt kỹ, hãy hít thở cho thiệt nồng nàn
đi rồi sẽ thấy…
Nắng Tiền
giang mưa Hậu giang
Xe lam về tới miệt Ba Càng
Ruộng khô thổi nóng lùa chưn tóc
Tóc em thơm phức mùi dưa gang
Nhưng liệu
nói như vậy mà đã bày tỏ hết được tấm
lòng của mình chưa ? Chưa ! Tư còn có thêm
một cái chợ nữa : Chợ của má. « Tôi
gọi những cái chợ ruộng dân dã này là chợ
của má. Bởi nó hiền lành, lam lũ như má. Bởi
chợ nhỏ nhoi, khiêm tốn như má, nhưng nó mang
một cái hồn sâu, mênh mông lắm nên người ta
nhắc nhở hoài, thương hoài như thương… má
vậy » (tr. 151). Trong chợ của má, những
người buôn thúng bán bưng là những ai ? « Họ
là những người gắn bó máu thịt với
cảnh chợ quê này không chỉ vì mưu sinh mà là mối
gắn bó thiêng liêng. Không có rau, không đi chợ, đâm…
buồn. Có người lặn lội đi bán từng trái
bình bát chín, không đủ tiền xe thì đi bộ,
« miễn sao đỡ ghiền chợ » (tr. 153).
Ở thành thị người ta ghiền quyền lực,
ghiền tiền bạc, ghiền karaôkê, ghiền bia ôm,
ghiền xăng nhớt, ghiền ma túy thì ở miệt
ruộng rẫy này, người dân quê họ… ghiền
chợ ! Một loại ghiền rất tốt cho
sức khỏe và càng thắt chặt thêm tình nghĩa xóm
làng.
Đi vào thế
giới Tạp văn của NNT, người ta
bắt gặp một trời một biển tình
thương và gắn bó. Và cũng chính vì bởi gắn bó
liền tay liền ruột với đất đai mà
người dân quê phải gánh chịu biết bao là phũ
phàng cay đắng, biết bao là nợ nần chồng
chất, biết bao là thất vọng ê chề. Đôi ba
người tự tử, rất nhiều người
bắt buộc phải bán rẻ đất nhà mà ngậm
ngùi bỏ xứ ra đi trong hờn tủi và nước mắt.
Rồi sẽ thấy.
Tạp văn chia làm 35 tựa trải
đều trên 186 trang. Cũng như trong ba tập
truyện trước của Tư, trên trang nào của
Tạp văn cũng bắt gặp thường trực
chữ nghĩa và cách nói miền Nam, đặc biệt là
miệt Hậu giang của Tư. Đếm không xuể,
kể không hết. Bút pháp cũng vẫn là giọng văn
nói duyên dáng nhuần nhuyễn và tự nhiên của Tư.
Lối viết này tạo cảm giác thân quen, gần
gũi. Tuy nhiên, cũng nên cẩn thận, chọn lọc
kỹ và dùng chữ cho chính xác. Vì nếu cứ viết
phóng túng đẩy đưa theo hứng khởi, lối
« văn nói » sẽ rơi vào sự dễ dãi,
cẩu thả, làm mất đi phần đóng góp cần
thiết và quý giá của người viết : sự sáng
tạo. Một khi sáng tạo mất rồi thì tính cách văn
chương của bài viết cũng sẽ mất
luôn, không còn lôi cuốn được người
đọc nữa.
Hai thể
loại Tư thường dùng nhứt là tùy bút và ký sự.
Đề tài khá đa dạng : tiếc thương
những vùng đất cũ, bàng hoàng trước
những đổi thay sau « giải phóng », lãng
đãng những kỷ niệm về bạn bè ngày xưa,
ám ảnh bởi cái nghèo xơ xác dai dẳng của
người dân quê, phẩn uất trước thái
độ tắc trách và nạn tham nhũng của cán
bộ nhà nước. Cái tính chất văn chương
ở các tập truyện Giao thừa, Cánh đồng
bất tận đã phải tạm gác qua một bên.
Cũng dễ hiểu thôi. Chạm trán từng giây từng
phút với thực tế cam go, khắc nghiệt, gai góc,
thử hỏi còn ai hơi sức đâu mà thẩn thơ
vớ vẩn « Hôm nay trời nhẹ lên cao, Tôi buồn
không hiểu vì sao tôi buồn ». Trong thời khắc
hiện tại, người dân quê bắt buộc phải
đối đầu với những khó khăn sờ
sờ trước mắt và bắt buộc phải
nhận thức « Hôm nay trời nặng lên cao, Tôi
buồn « tôi hiểu » vì sao tôi buồn » !
Đọc Tạp văn mới thấu hiểu
được cái thực trạng thê thảm của
người dân quê miền Nam sau « giải phóng ».
Bắt
đầu Tạp văn là một cuộc hành trình
trở lui về dĩ vãng, khi trời Trở gió.
« Thoạt đầu, âm thanh ấy sẽ sàng từng
giọt tinh tang, thoảng và e dè, như ai đó dứng xa
ngoắc tay nhẹ một cái, như đang ngại
ngần không biết người xưa có nhớ ta không »
(tr. 7). Cơn gió gì mà lạ vậy ? Và cứ hiu hiu
như vầy hoài sao ? « (…) bây giờ (nó) lớn
thành một dòng gió, xấp xải, cuống quýt xốc vào
tấm tôn bên chái đông đã bị đứt đinh
từ mùa trước. Cồn cào. Nồng nhiệt. Mà
thiệt dịu dàng. Ôi ! Gió chướng » (tr. 7). Cơn
gió chướng mùa trước , cơn gió chướng
năm ngoái đã trở về thổi vào cõi lòng xốn
xang của Tư những niềm nhớ không nguôi.
Tận cùng
phương Nam đất nước, nơi mang
địa danh Cà mau, một mũi phù sa nôn nả lấn
tràn ra biển Thái bình, Đất mũi mù xa. « Nơi
ấy, những ngôi nhà đều không cửa, nhà mở
toang cho gió nam vào, chướng tới, bấc qua, nhìn nhà là
hiểu người, chân thật đến bày cả gan
ruột » (tr. 11). Làm nhớ những ngôi nhà không
cửa do chính bàn tay thợ mộc của ba tôi và anh hai tôi
chung sức dựng lên ở Bạc liêu, ở Vĩnh long.
Một truyền thống Hậu giang còn giữ
được. "Người Đất mũi sao mà
hiền từ, mến khách thấu trời thấu
đất vậy không biết, dường như sống
giữa bao la trời, bao la biển này, người ta
phải học cách thương nhau để khỏi cô
độc” (tr. 14). Tùy bút Đất mũi mù xa
của Tư là một bài viết vô cùng nồng nàn thắm
thiết về phong tục và con người đất Cà
mau. Khiến nhớ muôn trùng.
Gió chướng
còn đem về thêm cho Tư một nỗi nhớ khác
nữa. Nhớ cái đầm nước mênh mông thuở
trước, bây giờ đã xa. Xa đầm thị
Tường. « Đầm Thị Tường là
vùng đầm nước mênh mông với diện tích
mặt nước hơn bảy trăm héc ta, quãng rộng
nhất gần hai cây số, rộng tay mạnh dầm
như dân xứ này, từ bờ nam sang bờ bắc
mất hơn một ngàn lát dầm, từ bờ tây sang
bờ đông nhìn mút mắt » (tr. 20). Người dân
đầm Thị Tường chuyên sống bằng
nghề đánh lú cá tôm. Mà cá tôm hồi thời trước
thiếu gì, ê hề, ăn mệt nghỉ. Và một khi
đã có mồi ngon rồi thì tất nhiên là phải có
nhậu nhẹt. Cư ngụ chung quanh đầm là « những
người hào sảng đậm đặc chất nam
bộ. Đàn ông nhậu một mâm thì đàn bà cũng
một mâm. Đàn ông say thì ca vọng cổ, (…) đàn bà say
chỉ nhảy múa cho vơi hơi rượu đi »
(tr. 24) Rất nhiều người từ đầm đã
ra đi để thành lập những xóm nổi tiếng
là kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ thời
trước. « Nguời dân móc ruột mình ra mà nuôi cán
bộ, sống chết với cách mạng » (tr. 24)
Sống thì không biết sao, chớ chết thì thấy rõ
trước mắt. Chết để nuôi hy vọng cho
những ngày mai tươi đẹp huy hoàng, chết trong
niềm mơ ước một tương lai xán lạn
rực rỡ cho con cháu mình mai sau, dĩ nhiên. Để rồi
coi. Nhưng còn cái đầm ? Đầm Thị
Tường bây giờ ra sao ? « Chuyện cá tôm
nhiều vô kể quanh năm, chuyện một chiếc xuồng
con với vài tay lưới có thể nuôi cả gia đình
đã quá xa vời. Chuyện xuồng đi tới đâu
cá nược đuổi theo đến đấy chỉ
còn là cổ tích » (tr. 25). Phải. Cổ tích, nhưng
mà là một cổ tích kết cuộc không có hậu.
Buồn năm phút ! Hay buồn năm ngày, năm tháng,
năm năm ? Buồn dài dài… Buồn mút mùa lệ
thủy !
Nhưng khét
tiếng chống Pháp và « chống Mỹ cứu
nước » đâu phải chỉ có mỗi một
mình cái Đầm Thị Tường. Còn một cái xã oanh
liệt khác nữa. Nó là một trong ba xã vây quanh
đầm. Ở đó cũng có toàn là dũng sĩ
cứu nước, và toàn là bà già giết giặc hết
trơn chớ bộ. Thiếu gì. Đếm không hết.
Ở đâu ? Thì ở Hưng Mỹ chớ đâu.
Người dân Hưng Mỹ can trường và trung kiên
số một. « Nhớ những người dân áo vá,
tay lấm chân bùn nhưng một lòng theo Đảng, theo
cách mạng. Nhớ hàng ngàn cái hầm đào dưới
những vườn dừa bạt ngàn mà người Pháp
người Mỹ không tìm được lối vào vì
miệng hầm nằm trong trái tim mỗi cụ già, em
nhỏ » (tr. 43) Đó thấy chưa ? Nói có
trật chút nào đâu. Tới em nhỏ cũng là « con
nít giết giặc » luôn nữa, huống hồ là
mấy bà già và mấy ông già !
Nhưng bây
giờ thì sao ? Xã Hưng Mỹ le lói tới mức nào
sau cái ngày « giải phóng » năm 75 ? « Ba
mươi tháng tư này nữa là tròn 29 năm hòa bình. Con
đường quốc lộ về ngang qua xã vẫn ca
hoài bài « Đường chỉ đẹp những khi
còn… dang dở ». Xã có 3911 hộ, đã ngót 251 hộ
nghèo, 13 ấp thì một ấp rưỡi chưa có
lưới điện » (tr. 43). Chỉ tiêu mà
đạt đến mức đó thì quả thực là cao
cấp, còn thành tích thì hết sức là hoành tráng, vậy còn
đòi hỏi gì nữa cơ chứ ? « Bây
giờ đất này còn nghèo hơn trước, cái nghèo
lừa mị người xứ xa, lừa mị những
ông quan kinh lý ưa kiểm tra lớt lớt » (tr.
44). Kiểm tra lớt lớt là kiểm tra như thế
nào cơ chứ ? Này ! Định xúc phạm và phá
hoại Nhà nước đấy phỏng ? Nhà
nước đang bù đầu để xử lý một
vấn đề lớn lao và trọng tâm vô cùng là vấn
đề giáo dục. Vậy thì yêu cầu đường
sá, điện nước lẻ tẻ làm chi mà lắm
thế ? « Hỏi cô con gái tên Trang đã học
tới lớp mấy rồi, cô cười, nghèo quá,
mấy anh em em hổng ai biết chữ » (tr. 45)
Không biết chữ thì phải đi học chữ lấy
một mình. Nhà nước đâu thể học chữ giùm
cho nhân dân được ! Nhưng đâu phải
chỉ có mỗi một cái « hổng ai biết
chữ ». Hưng Mỹ còn có rất nhiều cái
« hỏng có » khác nữa. « Hồi đó
Thị Tường có « ba không », không theo giặc,
không bỏ Đảng, không bỏ cách mạng. Bây giờ
thì « tùm lum không ». Không gạo, không tiền, không cá,
không rau cỏ… » (tr. 47) Này này ! Hết phá hoại Nhà
nước, bây giờ còn định bôi bác chế
độ đấy phỏng ?
Tới đây xin
mở ngoặc nói về một hiện tượng
đang xảy ra ở đất nước ta. Khi đi
karaôkê, kể từ Đà lạt ra tới Huế, ở
đâu các em nhỏ hậu phương cũng đều
xổ ra toàn là giọng miền nam. Ngay cả tiếng
« Huệ » cũng lai giọng nam kỳ. Tò mò « hỏi
người em nhỏ lạc loài từ đâu ? » Em
thì nói từ Chợ Gạo, Mỏ Cày, Bến Tranh,
Chương Thiện… Em thì « thành thật khai báo với
cách mạng », em là em nhỏ Bến Tre, Giồng Trôm,
Đồng Tháp, Cái Nhum… Toàn là những vùng ủng hộ
kháng chiến ngày trước. Và toàn là gái miền Tây.
Bật ngửa ! Và khi em Chợ Gạo cất giọng
mũi nhão nhẹt dân dã để lâm ly biểu diễn
karaôkê thì vẫn cứ nhứt định là « anh
cầm tầm vông vạt nhọn, em cầm dao phay sáng
ngời, hai đứa mình phom phom chạy qua cầu
khỉ quyết chí diệt thù, phất cao lá cờ cách
mạng… » khí thế vô cùng hùng dũng. « Rằng quen
mất nết đi rồi ! » Cái « tiếng
xấu » mà các cô gái miền Tây phải hứng chịu
này, Tư cũng đã có dịp nói phớt qua trong Kính
thưa anh nhà báo ! Khi bạn bè hỏi em gái từ
đâu đến, em gái đã chẳng đặng
đừng, lí nhí, thẹn thò thưa thốt : « Thưa,
em ở Cà mau » (và tôi làm sao tránh được ánh
mắt cười cợt, nghi ngại của người
thị thành khi biết tôi là gái miền Tây) » (tr. 105).
Đóng ngoặc.
Trở lại
Hưng Mỹ. Lần này, sau khi đọc kỹ Ngậm
ngùi Hưng Mỹ lần nữa, thấy ở
đoạn kết Tư cũng có nhen nhúm lên một chút hy
vọng trong lòng bà con ta đó chớ. « Nghe mấy ông
thầy coi nước nói năm nay tôm tép khá lắm đây
(…) Không biết có phải là những lời an ủi,
vực nhau đứng dậy rồi bị đồn
đại ra không, nhưng tôi biết ơn mấy ông
lắm lắm, khi nhen lại cái khát vọng sống trong
lòng người Hưng Mỹ. Ờ, sống để mà
bước tới » (tr. 50).
Từ xưa
đến nay, hy vọng vẫn luôn luôn là liều thuốc
trị được bá bịnh – trừ bịnh ỉa
chảy dĩ nhiên ! Chú Hai sạt nghiệp vì
đổi qua nghề nuôi vịt, nhưng ác thay, lại
trúng nhằm mùa dịch cúm gia cầm. Nợ ngân hàng lút
đầu. Vậy mà trong nhà vẫn không ngớt tiếng
cười rộn rã. « Rầu cũng nghèo mà
cười cũng nghèo, sao mình hỏng cười,
hỏng hy vọng cho đỡ khổ hả cô ? »
(tr. 113) Chí lý ! Thiếm Hai duy vật biện chứng
Mác Lê như vậy rất là chí lý, nghe lọt lỗ tai
hết cỡ nói. Dân Hậu giang ta bao giờ cũng
lạc quan... hết thuốc chữa. Vì có sao đâu? “Lúa
thất thì hy vọng trúng mùa sau, giá rẻ như bèo thì
cứ đinh ninh năm sau sẽ được giá.
Lứa này tôm chết thì chờ lứa sau, lúc thả
bọc tôm nhỏ như cây kim xuống đầm, vẫn
mong mai này còn gặp lại chúng" (tr. 113/114). Tư
chợt bừng mắt trước một điều
hết sức hiển nhiên – hiển nhiên tới
mức người ta không để ý, như cái không khí
mình đang thở chẳng hạn. “Tôi nhận ra
rằng, nông dân mình xưa rày có món đặc sản
“độc” lắm, nhờ món đó mà họ sống
từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ
đời này sang đời khác. Đó là "hy vọng"
(tr. 113)
Hết vớt tôm
chết thì tới chôn vịt sống. Hết cúm gia cầm
thì có liền "bão tôm" thổi tới "từ
tốn, lặng lẽ, mà bào mòn sức chịu đựng
của con người”. Lo gì ! "Vớt từng con tôm
nhỏ bằng ngón tay út lên lòng rưng rức, đứt
ruột (...) Có ai làm gì nó đâu mà nó chết, mình quý nó còn
hơn mạng mình nữa mà? (...) Má tá hỏa khi biết
hầu hết tôm giống trên thị trường không
hề được kiểm dịch" (tr. 118) Này!
Đừng có vu oan cho Nhà nước nhé cô Tư! Nhà
nước ta ngày đêm không ngừng lo lắng đào sâu
giải pháp cho nhân dân. Nhà nước không ngừng quy
hoạch, không ngừng chuyển dịch cơ cấu
sản xuất. Người khác chỉ rành có sáu câu,
chứ Nhà nước ta thì rành tới sáu câu... rưỡi.
"Người dân bao đời gắn bó với cây lúa
bây giờ nôn nả cho nước mặn vào đồng
để nuôi tôm" (tr. 99). Cũng hợp lý thôi. Cây lúa
cần nhiều nước ngọt mà thu hoạch lại
quá ít ỏi thì thay nước mặn vào! Còn chờ gì
nữa? "Chỉ mới một mùa tôm (đầu)
thôi, bác à, nhưng đó là mùa tôm người nông dân vùng
chuyển dịch vắt kiệt mình ra trước bao
nỗi cực nhọc, buồn vui" (tr. 116) Vắt
kiệt? Cô đừng có quá nhời chứ cô Tư. Đã
vắt kiệt rồi thì làm sao vẫn cứ còn vắt
hoài được hoài? "Chuyện tôm chết nông dân
đã rành sáu câu rồi, chỉ khác, đây là năm thứ
tư tôm chết, nghĩa là năm thứ tư nông dân Cà mau
vắt kiệt mình trong nỗi lo đói nghèo" (tr.
108). Năm thứ tư? Tội nghiệp quá nhỉ ?
Nhưng ba bốn năm nay chịu đựng nổi,
chắc bà con nông dân ta vẫn hãy còn đủ hy vọng
để mà lướt qua năm thứ năm. Và không
chừng còn "dư sức qua cầu" luôn năm
thứ sáu.
Mùa "bão tôm"
từ tốn và nạn tôm chết hà rầm dàn trải lê
thê trên nhiều bài viết của Tư trong Tạp
văn: Ngậm ngùi Hưng Mỹ, Thư từ quê, Đi
qua những cơn bão khô, Chờ đợi những mùa tôm,
Gió mùa thao thức... Trong cảnh cùng quẩn,
người dân quê ngước nhìn lên "trên" để
mong cứu giúp. “Trên" đây không phải là "trên
Trời" hay "ơn Trên", mà là "ở
trên". Rồi "ở trên" mới ra tay ban phép
mầu ra làm sao? "Mấy ông Nhà nước không
nghĩ ra cách nào cứu tụi tui, để vầy hoài,
hai năm nữa không chết đói cũng chết vì
trộm cướp cho cô coi, bần cùng sanh đạo
tặc, ông bà mình dạy vậy" (tr. 108) Làm gì mà lo xa
quá vậy? Mới chỉ có bấy nhiêu đấy thôi mà bà
con đã kêu trời như bộng ! Cũng tại bà con
hết đấy chứ. "Báo chí than bà con mình
thiếu thông tin, thiếu hiểu biết rầm trời,
các chú "ở trên" nhằn, bà con mình nóng vội quá"
(tr. 118) Thì lỗi tại bà con rành rành đây này! "Thuở
đời nay, năm nào mấy ổng cũng lên ti vi kêu
năm này phấn đấu đạt năng suất cao
hơn năm trước, khuyến khích giống mới
này trúng hơn giống cũ, vậy mà làm ra hột lúa
trần thân, bán không có giá, mấy ổng đổ thừa
tại nông dân làm cho cố mạng nên bán không
được" (tr. 184) Nhưng đổ thừa
như vậy cũng đâu có trật. Làm chi mà làm cho
cố sát, ai mà ăn dộng cho hết. Hơn nữa, bây
giờ bà con ta lại còn bày đặt “phấn
đấu” với lại “năng suất” năng siết
rùm beng. Hồi xưa ở Cờ Đỏ, má tui cũng
có một thời cày thuê cấy mướn, nhưng đâu
có biết “phấn đấu” với “năng suất” là
cái khỉ mốc gì! Vậy mà vẫn có gạo ăn hoài
hoài.
Bà con cứ
đòi hỏi Nhà nước phải có bổn phận
đối với nhân dân. Chớ còn cái bổn phận
của nhân dân đối với Nhà nước bà con
để nó ở đâu? Bộ quăng nó cho chó ăn
hết rồi hả? "Khi đôi bàn tay gầy
guộc của tôi vuốt lại những tờ bạc
lẻ nhàu nát lem luốc mồ hôi, dầu nhớt...
để nộp thuế cho đằng phường, nghĩ
tới mấy vụ tham nhũng động trời ngay
tại quê mình, nghĩ tới những bữa tiệc vung
vinh tiền triệu, chắc cái mặt tôi buồn hết
biết, mà tôi còn khóc, hổng chừng..." (tr. 166) Thôi
mà Tư! "Lau mắt đi em, đêm đã khuya rồi,
buồn chi nữa em?" Tư hãy bắt chước cái
lạc quan kinh niên của má mình. "Ai biểu làm nông dân
làm chi. Chỉ hy vọng mấy ông "ở trển"
làm cách nào cho dân bớt khổ, má tôi nhấn mạnh,
bằng cái giọng hết sức tin tưởng, "Mấy
ổng hứa rồi..." (tr. 185). Đó thấy
chưa! Ngày nào mà mấy ổng còn hứa thì bà con ta
vẫn còn có "quyền" hy vọng. Hy vọng dâng cao,
hy vọng miên man, hy vọng tràn trề, không biết
để đâu cho hết. Vậy thì bà con còn than cái
nỗi gì? "Thôi thôi... Đủ lắm rồi! Xin
đổi giùm cho tuồng khác. Thành thật cám ơn
đồng chí".
Khi bị vây kín
bốn bề bởi những khó khăn của đời
sống, người ta thường có một phản
ứng rất tự nhiên để bảo tồn lấy
mình: chạy trốn ! Bỏ đi nhậu, đi
karaôkê, đi du lịch. Hoặc coi phim bộ, đi ăn
tiệm, đi gặp gỡ bạn bè, nói chuyện tào lao,
đàn đúm ca hát. Nếu không làm gì được hết
thì người ta chạy trốn thực tại bằng
cách lùi sâu vào cõi không thực. Thả hồn về những
kỷ niệm đẹp ngày cũ. Về những ký
ức có bóng mát cỏ cây, có tiếng nước vỗ lách
tách, có tiếng lá khua tâm sự rì rào. Về những dòng
sông thương nhớ, về những đò xưa
bến cũ, về những cuộc tình dang dở bây
giờ đã mây trôi...
Nắng Tiền
giang mưa Hậu giang
Sông Mỹ đò đưa bến Vĩnh Tràng
Bên chùa tôi đã ôm em siết
Xa rồi còn tiếc chuyến đò ngang
Cái phản
ứng để tự vệ của Tư trước
những bức bách của đời sống cũng
vậy thôi. Trong đời Tư cũng đã từng có
những dòng sông cũ, những bến đò xưa,
những Trăm năm bến cũ con đò. "Trăm
năm để lỡ hẹn hò, Cây đa bến cũ con
đò khác đưa". Một bến đò cũ nào
đó để Tư thả hồn mình về đó
nổi trôi, hầu dìm bớt đi những nỗi
muộn phiền đang vây khổn tư bề. "Bến
đò nằm cạnh nhà. Có thể nghe được
tiếng bước chân người xoèn xoẹt lại
qua, nghe mũi đò chạm lịch kịch vào bến, và
tiếng chèo chém ngọt vào mặt nước những lát
cắt dày. Và nhiều khuya nghe tiếng gọi đò xao xác (...)"
(tr. 163). Rồi tự hỏi biết đâu chừng mình
đã nghe lộn tiếng gì thành tiếng gọi đò
của ai đó . "Đêm nghe tiếng ếch bên tai,
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò" .
Khách đi đò cũng khác nhau lắm. Có khi là những
người phụ nữ đi chợ sáng lấy đò
trưa trở về bên kia sông. Có khi là đám học trò
đứng ngồi lóc nhóc trên đò qua bờ bên này
để tới trường. "Có người qua
đò rồi quay về, có người không trở lại.
Bến đò cũng là nơi nhiều đứa con gái qua
sông lên thành phố rao bán mình trong những "chợ
vợ", để lại mấy thằng con trai
chiều chiều ra bến đón đã đời mới
ngơ ngác, trời ơi, mình đang chờ ai đây?"
(tr. 166). "Chiều chiều chim vịt kêu chiều, Bâng
khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau...” Dứt
một cuộc tình. Tàn một đời trai. Rồi
đời trinh nữ. Khóc đi em !
Dòng sông cũ, con
đò xưa đã êm đềm đưa Tư lâng lâng vào Đôi
bờ thương nhớ. Chiều qua, Tư nhận
được thư của bạn mình báo sẽ cố
thu xếp trở về cố hương thăm nhà. "Rồi
bạn kể ra một dọc những cảnh moi từ
ký ức cũ, nào là những tàn cây trứng cá đằng góc
sân, hàng điệp đỏ gie mình ra mé nước che cái
bến, mấy chiếc xuồng ba lá buộc dập
dềnh vào chân cầu" (tr. 123) Bạn xa xứ
vậy mà đã 12 năm rồi. Mười hai năm
đã trôi qua, biết bao là vật đổi sao dời trên
cái xứ sở nát tan này. Và cũng biết bao là
đổi thay trong công cuộc vá víu lại đất
nước. Vì vậy, khi thấy bạn mình nhắc
nhở những cảnh xưa mà bạn còn nhớ, Tư
đâm lo ngay ngáy cho bạn mình. "Nhà cũ của
bạn tôi nằm đâu? Cái xóm nhỏ nhìn ra sông, đón
nắng từ sông, uống gió từ sông đó bây giờ
đâu? Thở dài. Những ngôi nhà trống huơ, hoang tàn,
trơ trơ gạch ngói, cái còn cái đã ngụp một
nửa dưới nước..." (tr. 124). Khi thư
bạn nhắc lại cảnh cũ người xưa,
Tư cũng thầm tiếc và ước ao mình có
được phép mầu để dựng lại ngôi nhà
cũ, trồng lại hàng điệp đỏ, trồng
lại cây trứng cá lá mềm năm xưa, và còn nhiều
thứ khác nữa... Nhưng rồi Tư bỗng giựt
mình chợt nghĩ lại. "Tỷ dụ như tôi
làm được những điều phi thường
ấy thì bạn của tôi ơi, cái hồn quê, hồn
đất năm xưa đã không còn. Mà tánh bạn cũng
như tôi, khăng khăng hoài: "Hoa nào đẹp
bằng hoa tuổi nhỏ, Ổi nào ngon bằng ổi
năm xưa”. Kỷ niệm của những ngày tuổi
trẻ vô giá" (tr. 128). Chẳng những vô giá mà
lại còn hết sức cần thiết nữa. Ôm vào lòng
mình kỷ niệm dĩ vãng (và ôm luôn cả hy vọng
tương lai) như cái phao nổi, hầu giữ cho
mũi mình còn lé đé trên mặt nước trong hiện
tại để mà thở. Cũng được !
Cũng tốt thôi !
May mắn thay !
Trong lúc Tư còn lặn hụp chới với giữa dòng
kỷ niệm ngoài khơi thì còn có được một
người đứng trụ hai chưn rất vững
trên đất liền để mà... lạc quan. Phải !
Có thiệt. Và Tư đã gặp con người lạc
quan đó: nhỏ Bèo! "Má ơi ! Con quạ nó
đứng chuồng heo, Nó kêu bớ má bánh bèo chín chưa
?" "Chín rồi ! Đừng có kêu nữa, coi
chừng tắt tiếng !" Bèo ! Một nhỏ
bạn lâu quá chừng không được giáp mặt. Mà
giáp mặt rồi thì sao ? "Bèo rối rít mời
tới nhà chơi, mà, cái giọng của con bạn,
trời ơi, nó tươi rói, giòn tan, sung sướng,
tự hào (...) Rồi nó cười hực hỡ, rạng
rỡ, như thể nhà nó là một thiên đường"
(tr. 60) Một thiên đường ! Thiệt sao ? Cái nhà
của con nhỏ đó ra làm sao mà nó le lói quá cỡ thợ
mộc vậy ? "Ai dè nhà nó nằm tuốt trong con
hẻm Cỏ sau lưng siêu thị. Đó là một con
hẻm dài, hẹp te, tối tăm, sình bùn ọp ẹp,
ngoa ngoắt (...) điệu này, tới cuối hẻm,
chắc nhà chỉ còn bằng cái miễu Ông Tà" (tr.
60) "Hoàng hôn dần xuống, tiếng chuông chiều
dần dần vẳng xa, em Bèo xanh lướt nhẹ gót
hồng từ từ trôi sâu vào hẻm Cỏ tím, để
rơi lại sau lưng mình một mùi hương
vương vấn của cỏ nội hoa đồng...”
Tuyệt ! Thơ mộng ngất ngư. Lãng mạn
thấu trời ! Vậy mà chê con người ta là chê ra làm
sao ? Còn cái nhà của cô nó hoành tráng tới mức nào mà dám
chê nhà con người ta một cách không có cơ sở và
dấu ấn gì hết trọi vậy ? "Nhà tôi
nằm ngang chợ phường, quay lưng với sông,
ngửa mặt đón bụi đường, trong nhà không
lúc nào ngớt tiếng xe, tàu chạy (tôi ngồi viết
văn ở đó, giữa tiếng động chói gắt
khủng khiếp của tàu xe, tiếng nhạc nhùng
nhằng từ xe kẹo kéo, tiếng những người
đàn bà bên chợ cá cự cãi nhau)" (tr. 61/62). Có
vậy thôi à ? Vậy mà cứ tưởng đâu nhà cô là
một thiên đường vô cùng cao cấp, đáp đúng
tiêu chuẩn ISO và đầy đủ hết mọi
chất lượng quốc tế chớ. Làm con
người ta hết hồn, thiếu chút nữa té lăn
cù dưới đất !
Con nhỏ Bèo có
lời tha thiết như vậy, nhưng khi lò dò quanh co,
quẹo mặt quẹo trái cho tới hết cái hẻm
Cỏ để bước vô được thiên
đường của con nhỏ Bèo rồi thì thấy nó
ra làm sao ? "Mái lợp bằng lá cũ mèm, ngửa
cổ đã thấy lấp lánh trời sao. Nước
bưng ra để cái cộp, khách chưa kịp uống
lá mục đã rớt vào, nên nước nghe thơm mùi lá
lắm" (tr. 61) "Hà ! Cái lầy mời chế
dẩm xà há !" Tuy nhiên, biết đâu nhờ uống
được nước trà có pha mùi lá lợp nhà thâm niên
của nhỏ Bèo mà Tư ngộ được thiền
và ngộ được luôn cái “Tri túc tiện túc, đãi
túc hà thời túc" của người xưa ? "Tôi
tới chơi một lần tự dưng buồn, nghe
thất vọng quá trời đất, nghe trong lòng có
một chút ghen hờn. Con Bèo học hành lở dở,
nghề nghiệp cũng chẳng cao sang, sao nó lại
ngộ chữ "tri túc", còn mình thì không ?" (tr.
61) Phải nói "chưa" thì đúng hơn là
"không". Cần phải kiên cường học
tập cách mạng thêm nhiều hơn nữa, cần
phải khởi nghĩa thêm nhiều bận nữa, may ra.
Bởi lẽ, "biết đủ thì là đủ”,
chớ biết tới mức nào mới là đủ bây
giờ ? Rồi nghĩ tới nghĩ lui gần nát óc,
Tư mới gẫm ra: "Tôi chân thành cảm ơn
những cuộc đi xa, nó làm cho tôi biết nhớ nhà,
ờ, miễn là nhà-của-mình, thôi thì, sao cũng
được" (tr. 63). Trong thâm tâm mỗi
người, ai cũng thiết tha có được Một
mái nhà. Là cái chắc!
Bước ra
đường gặp con nhỏ Bèo lúc nào cũng tích
cực lạc quan và lúc nào cũng sẵn sàng cất
tiếng cười tươi rói thì sức mấy mà
buồn nổi ! Mà Tư cũng hên lắm nghe. Ngoài con
nhỏ Bèo vui vẻ kinh niên ra, Tư còn có thêm
được Một người bạn không biết
viết văn. Và cũng không bao giờ biết buồn
luôn: Nguyệt ! Bữa Tư đang uốn tóc ở
tiệm cạnh nhà, cái đầu chơm bơm, tóc tai
cuốn từng cuốn như chả giò thì bà tiên
Nguyệt thình lình giáng thế. Bất ngờ gặp nhau,
mừng thôi hết biết. Khi Tư "thành thật khai
báo với cách mạng" là mình làm nghề viết văn,
Nguyệt “à" lên một tiếng cảm thông
rồi chia sẻ nỗi niềm với Tư bằng một
cái giọng hết sức là tội nghiệp xót xa: "Vậy
à, ờ, ráng đi, ai biểu hồi nhỏ mầy
giỏi văn làm chi". Lời của nó thiết tha
đến nỗi làm tôi tin rằng mình tội nghiệp
thiệt, thấy thương quá đi. Người không
viết văn sướng hơn mình nhiều" (tr.
52) Vậy à ? Nguyệt tỏ vẻ chê cái nghề viết
văn, còn nó, nó có làm được chuyện gì
"khá" không ? "Nó giỏi giang, chu đáo, làm
việc nào ra việc ấy (chắc là vì không biết
viết văn như tôi ?). Nấu món nào chồng cũng
thích, bạn bè chồng tới nhà hai năm sau còn nhắc
bữa ăn cá lóc luộc mẻ nghe ngon tới bây giờ"
(tr. 52). Được lắm. Nấu nướng như
vậy rất là đáng khen. Nhưng về mặt nghệ
thuật, cái sở thích, cái “gu” của nó có “siêu" lắm
không ? "Nó nói nó không thích phim Mỹ, khó hiểu lắm,
hổng giống phim Đài loan, coi lần nào cũng khóc
muốn chết" (tr. 53)
Tới nhà bạn
chơi, đưa mắt ngó lên cái kệ sách lèo hèo thấy
không có quyển nào mang tên tác giả Nguyễn Ngọc
Tư, nhà văn “nhớn” bèn hỏi chớ bạn ta đọc
sách gì ? "Nguyệt kể ra nào là "Tình như mây
khói", "Yêu mãi người ơi", "Mai em theo
chồng"... loại sách vừa dễ hiểu vừa có
chữ bự coi không mỏi mắt" (tr. 55). Dĩ
nhiên ! Tại sao phải kiếm chuyện khó mà làm ? Tại
sao phải kiếm chữ nhỏ mà đọc cho lòi con
mắt ? Rồi than mệt. Mệt cầm canh !
Nguyệt kiếm
cách gặp gỡ bạn bè lu bù. Còn Tư thì bận
viết văn (làm đại sự !) Khi bận viết
thì đành gác chuyện đi chơi với bạn qua
một bên. Khi rảnh rang tìm bạn để chơi và
để nhậu (dô ! dô !) thì chẳng có ma nào. Buồn
năm phút ! Và trong một phút hoang mang, nàng chợt ớn
lạnh rùng mình ba cái rồi lắng nghe cô đơn
chầm chậm lấn vô cái tâm hồn tội nghiệp
nhỏ bé bằng cỡ bàn tay năm ngón của mình. "Nguyệt
thì chẳng bao giờ cô đơn như thế. Nó
để dành cả một tâm hồn không vướng
bận để quan tâm, chia sẻ, chu toàn hết thảy
chuyện lặt vặt của cuộc đời. Còn tôi..."
(tr. 56) Còn tôi thì sao? Bộ tính xuống vọng cổ sao
đây cô Tư ? Nói trước đi cho người ta
hờm sẵn để mà phựt đèn màu đúng bon cho
nó ăn rập. “Còn ta... Ta phải chịu bấy nhiêu
điều đau khổ cay đắng như dày vò như
cấu xé cho tan nát mảnh tơ (ơơờ)... lòng
!" (Phựt đèn !) Ủa, bộ tưởng vậy
mà hổng phải vậy hả ? "Còn tôi thì đang
đứng trên biển văn chương mênh mang chưa
thấy đâu là bờ bến, đường đời
cũng dở sống dở chín, chưa đâu tới đâu,
hai vai không trọn vai nào" (tr. 56) "Chưa thấy
đâu là bờ bến" ? Bộ bỏ quên ống dòm
ở nhà rồi hả Tư ? Mà cũng nên coi chừng và
bảo trọng lấy thân mình nghe Tư. Cứ
đứng hoài trên biển văn chương thì bảo
đảm sẽ bị dính mực tèm lem. Và hơn nữa
sẽ còn bị ướt hết quần áo rồi
cảm lạnh, ách xì nhảy mũi um sùm đó nghe.
Khi làm cái nghề đi
biển hết sức phiêu lưu, thỉnh thoảng Tư
cũng kiếm người thân để trút bớt
bầu tâm sự, xả bớt ra một đôi lời cho
nó nhẹ nhàng... (quá trời mây !) Đó là Lời cho má
của Tư. Thỉnh thoảng về quê thăm má, Tư
than thở “làm cái nghề viết văn cô độc,
cực khổ quá má ơi”, má tôi lặng lẽ buồn hiu.
Buồn vì không hiểu văn chương, không thể dìu
dắt, nâng đỡ tôi trên con đường nhọc
nhằn đó, nhưng má không hay rằng má giúp tôi nhiều
lắm” (tr. 155) Tư hằng tin như vậy. Và sẽ
vẫn còn vững tin như vậy nữa, tin triền
miên, tin dài dài, lòng tin không hề hao hớt đi theo ngày
tháng. Tư luôn luôn tin rằng "Vẫn còn những ngày
dài phía trước, mai tôi sẽ về thưa với má, dù
tôi nói câu này hơi trễ tràng nhưng có còn hơn không,
rằng chưa có bao giờ má tôi dạy tôi viết văn,
nhưng những gì tôi viết ra đều mang hơi
thở cuộc sống mà má trao tặng" (tr. 158).
Ai cũng có
một bà mẹ để mà ôm ấp, để mà
thương, để mà nhớ. Đối với tôi,
tiếng “má" gợi hình ảnh những "bà
già quê hương", những bà già có làn da nhăn nheo
thơm tho mùi đất, có bàn chân nứt nẻ phù sa, có
trái tim từ bi vô lượng, trái tim đó đã bơm máu
vào cuống rún tôi từ lúc tôi còn nhỏ xíu, lớn chưa
bằng đầu ngón tay. Má tôi là một trong những bà
già quê hương đó.
Nắng Hậu
giang mưa Tiền giang
Nắng mưa mưa nắng chín mùa màng
Vòm cao tre trúc nghiêng nghiêng bóng
Trâu nghé lim dim núp nắng chang
Đối
với tôi thì là vậy. Nhưng đối với Tư,
tiếng má gợi lên hình ảnh gì ? "Má tôi là nông dân,
suốt quãng thời gian cầm bút, mỗi khi tôi viết
về người nông dân tôi lại nghĩ tới má. Trong
tôi hiện lên một khuôn mặt sạm đen nửa
đêm thao thức, nghe gió về lo lúa đang trổ ngoài
đồng bị lép hạt" (tr. 154). Mà đâu
phải chỉ có lo suông vậy thôi. Má làm quần quật
cả ngày. Làm từ sáng sớm tới trưa, từ
trưa tới chiều, từ chiều tới sẫm
tối. Có khi ban đêm cũng làm luôn. Làm ruộng, trồng
rau, tưới rẫy, làm giàn cho dưa leo, mướp,
đậu rồng, xới đất, lên giồng, xách
nước... Bấy nhiêu công việc đó theo ngày tháng
đã dần dần biến hai bàn tay má trở thành "cục
mịch, với những đốt xương thô mà sàng
gạo như múa trong trưa vắng (...) Kẽ tay má
đầy những mảng nước ăn, đau
nhức tới từng đốt xương sao má không
than hả má ?" (tr. 154/155). Đã là dân quê mà lại còn
làm ruộng thì tới mùa cày cấy, má phải lội bùn,
lội nước vô cùng vất vả. Lội năm này
qua tháng nọ. "Đôi chân ấy từ mười
tuổi đã biết khóc. Chân má ngắn, ngón ngắn,
chỉ rộng bề ngang nên nhìn nó to bè bè" (tr. 182).
Ngó thấy bàn chưn má sần sùi nứt nẻ Tư
cũng xót ruột lắm. Thỉnh thoảng Tư bỏ
ra chút thơì giờ để chăm sóc cho má. “Lâu lâu,
như buổi tối nay, tôi nơ chân má lên cắt móng cho
má, lại thấy móng dày thêm sớ, phèn che bít cái phần
hột gạo đục ở trong, vàng hoe hoe vàng.
Dưới gan bàn chân, chai nhiều chỗ, phía gót thì
nứt nẻ như đồng khô mùa hạn. Gió trở
bấc, chỗ nứt tứa máu, lại nứt sâu hơn"
(tr. 182/183). Hồi nhỏ, tôi không để ý coi bàn chưn
má tôi ra làm sao, nó có trần ai như vậy không. Chớ bàn
tay đục đẽo của ba tôi thì ly kỳ lắm !
Ô dề kịch cợm thì chẳng nói gì. Đằng này,
móng tay của ba tôi nó dày mo, không có kềm đục nào mà
cắt cho nổi. Chỉ còn nước lấy cưa
thợ mộc ra mà cưa vòng vòng – như người ta
cưa sừng nai vậy đó. Mạt cưa và móng tay
rớt ra cả đống. Chịu thua ông già !
Quanh năm
suốt tháng loay hoay với lúa gạo nên má Tư gắn bó
cả cuộc đời mình vào cây lúa. Theo má tin, "lúa
có linh hồn. Không biết má trao cho đám lúa còn non nớt
kia bao nhiêu tình thương yêu, bao nhiêu hy vọng (...) Bà có
tình thương yêu ruột ràng vào cây lúa, bà tin tưởng
mạnh mẽ vào kinh nghiệm nắng sương mấy
mươi mùa ròng rã của mình. Để coi, tính mùa này
nữa, má tôi làm ruộng suốt 38 năm" (tr. 180).
Ba mươi tám năm má gieo mạ, má trồng lúa, má
chăm sóc lúa, má gặt lúa, má gánh lúa, má đập lúa, má
tải lúa... Cực quá là cực ! Bởi lẽ đó mà
suốt nhiều năm qua, má chỉ mơ ước có
mỗi một cái máy vừa gặt lúa vừa đập
lúa. “Khi mà đồng đất đã biền biệt
bóng trâu, bạn chịu khó đẩy xuồng trên ruộng
cạn, tải từng bó lúa như ba má tôi dưới
nắng hè. Má tôi đã bao nhiêu năm rồi đẩy
vơi vơi trời biển" (tr. 181). Làm nông dân
cả một đời cực khổ, má sống chết
với ruộng, với lúa, với từng hột gạo.
Bởi lẽ đó, khi nghe ông Y thâm lạm chục ngoài
tỉ, má buồn khủng hoảng luôn. "Quen nết
nông dân, bà tính, được số tiền đó bà
phải làm ruộng chắt mót suốt... đời. Lúa
rẻ rề, một giạ vài chục ngàn, mấy ông
"ở trển" làm mất tính ra hàng tỉ tỉ
giạ chớ ít đâu" (tr. 183). Hàng tỉ tỉ
giạ bị thất thoát ! Còn ai bụng dạ nào mà
tiếp tục sống chết nhọc nhằn với lúa,
tiếp tục nghèo xơ nghèo xác, tiếp tục lặn
lội năm này qua năm khác, mùa này qua mùa khác, rốt
cuộc nghèo vẫn hoàn nghèo.
Nhưng má chỉ
nhọc nhằn có một mình ên má thôi sao ? May mắn thay, má
có một đứa con gái chí hiếu và đảm đang
số một. Tư đã từng sát cánh theo má lặn
lội vất vả, khổ "cực trần ai khoai
củ" trên khắp các kinh rạch, để đi bán
gạo bằng xuồng. Có khi kinh rút nước, lạch
cạn teo chỉ còn lại bùn. Vô phương bơi
xuồng. Bèn nghĩ ra cách tải gạo tải cám bằng
xe đạp. Tư rành cái vụ này lắm ! Đủ
thứ sáng kiến. Nhưng “ai khen tôi giỏi lòng má tôi
cũng đau, vì đã để tôi dang dở con
đường học tập”" (tr. 157). Rồi có
lần Tư theo má đi mua so đũa về để
bán lại ngoài chợ quê, cũng vẫn bằng xuồng.
Khi về xuồng phải vượt qua một con
đập. Nhằm lúc mưa nhiều, đập xả
nước kinh tràn ra như thác, lăm le nhận chìm
chiếc xuồng khẳm lừ. "Má chống chỏi
đằng lái, tôi nhảy ào xuống nước nắm
mũi xuồng kéo đi, qua đập, ướt như
con chuột, má khen tôi giỏi mà sao nước mắt má
rươm rướm vậy ?" (tr. 156).
Thấy
người ta đi theo chủ trương chuyển
dịch sản xuất, nuôi tôm kiếm được
nhiều tiền quá, má cũng muốn chuyển sang
nghề nuôi tôm để thử thời vận. Nhưng
rồi “bão tôm" thổi tới, tôm chết như
rạ. Tuy nhiên, má cũng vẫn cứ thử nữa.
Thử nữa, năm này qua năm khác, và Chờ
đợi những mùa tôm tới. Bởi lẽ "Má
và con tin rằng, dù lần lữa rồi thì những mùa tôm
sẽ tới. Nó sẽ tới để thay đổi
số phận, cuộc đời mỗi người (...)
Những con người lam lũ cực nhọc cả
đời xứng đáng được trả côn” (tr.
122). Với tấm lòng ngay thẳng quê mùa chất phác
suốt cả đời mình, má luôn luôn hằng tin như
vậy. Vái trời cho niềm tin của má trở thành
sự thật trong tương lai. Một tương lai
thiệt gần, trong lúc má hãy còn sống. Còn sống
để cho con kịp về thăm.
Con cũng
muốn về thăm lại má
Thăm dòng sông Hậu nắng lưa thưa
Có cây dừa lão thân gầy quá
Đứng khóc theo mùa con nước
đưa... ( )
Cám ơn Tư
đã ân cần dẫn dắt tôi về thăm lại
miền đất Hậu giang, nơi Tư và tôi đã sinh
ra và lớn lên một thời. Cám ơn Tư đã
đưa tôi tới thăm Ngọn đèn không tắt
ở cái Xóm Rạch nhỏ nhít, đưa tôi đi đón Giao
thừa trong một chợ tết còn ngổn ngang
dưa hấu và hoa xuân. Tư cũng đã dắt tôi
lội bộ rã chưn băng qua Cánh đồng bất
tận. Và cuối cùng Tư đã đưa tôi tới
gặp gỡ bà con mình trong Tạp văn để
thấu hiểu và cùng chia sẻ những nhọc nhằn,
những khó khăn mà người nông dân tay lấm chân bùn
phải đối đầu trong cuộc vật lộn với
những bất trắc của thời tiết, của
đời sống, của mưa gió từng mùa, từng
năm, từng tháng, từng ngày. Đi với Tư trong
chuyến viễn du, tôi cũng đã có dịp khám phá
lại những trận nắng Tiền giang rát da, và
những cơn mưa Hậu giang rượi mát. Cám ơn
Tư, cám ơn Tư.
Trong cuộc hành
trình này, tôi chợt nhận ra giữa Tư và tôi có
nhiều điểm tương đồng. Tư
thương loài vật, tôi cũng thương loài vật.
Tư có vịt xiêm Cộc, con vịt mù, và chim bìm bịp.
Tôi có vịt xiêm Đại bàng, em vịt vàng nhỏ và
một con chim sáo rất khôn, lần nào cũng bay xuống
đậu lên vai lúc tôi đi học về. Tư có bà
mẹ quê với bộ mặt sạm đen và bàn chưn
chai nứt. Tôi có bà già quê hương với nụ
cười tre trúc và bàn chưn nứt nẻ phù sa. Và còn
nhiều thứ nữa, như viết văn, như lo
chuyện trên trời dưới đất, như nhớ
sông nhớ nước, như thương cây mắm
tiếc cây bần chẳng hạn. Không thấy Tư nói
về những mối tình đầu hay tình cuối
của mình. Còn tôi, tôi có Hoa, nụ hôn đầu tiên bên
bờ sông Định tường. Tôi có Tuyết,
người tình quán nước Tiền giang thuở
học trò, người con gái đã cùng tôi chia sẻ
những nhục cảm đầu đời, hoan mê,
chết giấc.
Nhờ Tư,
thình lình tôi sực nhớ lại hết những
người đã ân cần dìu dắt tôi đi suốt
một quãng đường dài đầy bất ngờ,
cho tôi nhận ra rằng, dù tôi có vấp ngã nhiều
lần, cuộc đời này vẫn hết sức
vồn vã, hết sức nồng nàn, hết sức
đẹp đẽ. Những người thân, những cô
gái đã cùng tôi chia sẻ một thời những cuộc
tình hừng hực, những mái nhà ấm cúng, những
bữa cơm đạm bạc, những vui buồn
lớn nhỏ, giờ đây đã nằm sâu trong lòng
đất. Lần nào về thăm quê hương, tôi
cũng cố lặn lội đường sá trắc
trở để được tới quỳ lạy và
thắp một nén nhang tưởng niệm trên mộ ba má
mình. Nhưng mộ của Tuyết, tôi không biết nó
nằm nơi nào, và cũng chưa hề một lần
tới thăm. Trải qua biết bao cuộc binh đao
ngụt trời lửa sắt, biết bao cuộc tang
thương vật đổi sao dời, ngôi mộ vùi chôn
thân thể dấu yêu một thời ôm ấp, giờ
đây chắc chỉ còn là một nấm đất mòn
lạng hoang tàn...
Mưa Hậu
giang nắng Tiền giang
Nhiều đêm không ngủ dạ mơ màng
Nhớ người nhớ đất mùi quê
cũ
Ôi nắng Tiền giang mưa Hậu giang !
Bagnolet, ngọai ô Paris
Tháng mười 2007
Kiệt Tấn